Xoa bóp bấm huyệt theo y học cổ truyền

Theo y học cổ truyền, xoa bóp bấm huyệt là những thủ thuật tác động cơ học lên da, thịt và huyệt vị của người được massage để đem lại cảm giác thư giãn và giảm đau tức thì. Để có thể hiểu được kỹ hơn về liệu pháp này, chúng tôi xin giới thiệu với các bạn các kỹ thuật xoa bóp bấm huỵệt:

Kỹ thuật Xát: dùng lòng bàn tay, gốc bàn tay, mô ngón cái hoặc mô ngón út xát lên da theo hướng đi thẳng  ( thănge lên, thẳng xuống, thẳng sang phải hoặc sang trái). Lưu ý  trước khi xát nên dùng dầu hoặc bột Tale để làm trơn da. Động tác xát có thể áp dụng toàn thân, ở mọi vị trí.

Kỹ thuật xoa: sử dụng gốc bàn tay, mô ngón út, ngón cái hay vân ngón tay để chuyển động tròn trên da. Thủ thuật này thường được sử dụng ở vùng bụng hoặc những vết thương sưng đỏ.

Kỹ thuật day: đặt gốc bàn tay, mô ngón út hay mô ngón cái tại chỗ ở một vị trí trên da người bênh ( thường là chỗ đau hoặc nới các cơ), dùng sức ấn xuống, chuyển động theo đường tròn tại chỗ 

Kỹ thuật ấn: dùng ngón cái, gốc gan bàn tay hay mô ngón tay út  để ấn vào một huyệt vị hoặc một vị trí nào đó

Kỹ thuật miết: miết chặt vào da người bệnh theo hướng lên xuống, phải trái bằng vân ngón cái. Kỹ thuật này hay dùng ở đầu và bụng.

Kỹ thuật phân: dùng cả hai tay với mô ngón út hoặc vân các ngón tay bắt đầu cùng một chỗ rồi tẽ ra hai phía ngược nhau. Kỹ thuật này thường dùng ở đầu, mặt, ngực, lưng.

Xoa bóp bấm huyệt theo y học cổ truyền

Kỹ thuật hợp: kỹ thuật này ngược với kỹ thuật phân, nghĩa là đi từ hai phía và hợp lại cùng vị trí.

Kỹ thuật véo: dùng ngón cái và ngón trỏ cầm lấy cơ và da của bệnh nhân kéo lên sao cho da người bệnh luon bị cuộn giữa các ngón tay.

Kỹ thuật âm: dùng đầu ngón tay ấn vuông góc vào các vị trí đau và nơi co cứng để điều trị bệnh cấp và mãn tính.

Kỹ thuật điểm: dùng sức từ ngoài ấn thẳng góc vào huyệt vị hoặc vị trí nhất định. Kỹ thuật này thường dược dùng ở mông, lưng, thắt lưng và tứ chi.

Kỹ thuật bóp: dùng hai bàn tay  bốc vào thịt, bóp và hơi kéo thịt lên. Kỹ thuật này hay dùng ở cổ, gáy, vai, nách, lưng trên. Mông và tứ chi.

Kỹ thuật đấm: nắm tay lại, dùng ô mô út nện vào  các vị trí thường đấm như lưng, mông, đùi.

Kỹ thuật chặt: duỗi thẳng các ngón tay, dùng ô mô út chặt vào lưng, mông, đùi.

Kỹ thuật lăn: dùng mu bàn tay hoặc các khớp giữa các ngón tay, lăn lăn trên da thịt beẹnh nhân.

Kỹ thuật phát: khum hai lòng bàn tay, các ngón tay khép lại để lòng bàn tay hơi lõm. Phát nhẹ vào các vị trí như vai, thắt lưng, tứ chi, bụng.

Kỹ thuật rung: kỹ thuật này chủ yếu dùng ở tay bênh nhận

Kỹ thuật vê: dùng ngón cái và ngón trỏ, chủ yếu vê các ngón tay, ngón chân và các khớp nhỏ.

Kỹ thuật vờn: thường dùng ở chân, vai, lưng và sườn.

Kỹ thuật vận động: chủ yếu sử dụng với các khớp, từ theo từng khớp mà có các vận động khác nhau.

Bài viết liên quan